[ELLE Voice] Tiến sĩ Nguyễn Thanh Thúy: Giáo dục là hành trình tìm ra điều phù hợp nhất

Giữa thế giới toàn cầu hóa với muôn vàn cách tiếp cận giáo dục, đâu mới là con đường tốt nhất? khi cùng bạn đọc đi tìm câu trả lời, ELLE có cơ hội trò chuyện với tiến sĩ Nguyễn Thanh Thúy. Là một giảng viên với 20 năm kinh nghiệm, lại là mẹ của những đứa con đang ở độ tuổi mới lớn, chị Thúy nhận ra rằng không có phương pháp giáo dục nào là tốt hơn những phương pháp khác, mà mọi cách làm hợp đạo đức đều tốt nếu đó là con đường hiệu quả nhất giúp người học đạt được mục tiêu họ hướng tới.

Trong buổi trò chuyện cùng ELLE Việt Nam, Tiến sĩ Nguyễn Thanh Thúy mở ra góc nhìn mới về giáo dục, nhấn mạnh vai trò của việc phát triển tư duy, kỹ năng và động lực tự học để mỗi người tự kiến tạo triết lý riêng cho cuộc sống.

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Thúy chia sẻ về quan niệm giáo dục
Tiến sĩ Nguyễn Thanh Thúy hiện đang làm việc tại bộ môn Lý thuyết tiếng, trường Đại học Hà Nội với 20 năm kinh nghiệm giảng dạy

Là người giảng dạy, đồng thời cũng là một người mẹ, chị nghĩ đâu là những điều quan trọng nhất của việc giáo dục?

Câu hỏi về “điều quan trọng nhất” thực ra đã đeo đuổi mình từ ngày mới bước chân vào nghề, và mình vẫn tiếp tục nghĩ về điều đó cho tới tận hôm nay. Mỗi một trải nghiệm giáo dục, dù dưới hình thức giảng dạy học trò hay nuôi lớn những đứa con, đều giúp mình nhìn ra những khía cạnh đa chiều của khái niệm “giáo dục”. Mình ngày càng tin rằng không có “điều quan trọng nhất”, mà chỉ có “điều phù hợp nhất” với mục đích của mỗi cá nhân, mỗi gia đình, mỗi cơ sở giáo dục. Nói một cách đơn giản, giáo dục trong gia đình hướng tới việc nuôi dưỡng và nâng đỡ cá nhân đi từ chỗ phải phụ thuộc người lớn tới chỗ có thể độc lập, tự chủ, tự lo cho bản thân và thiết lập cuộc sống của riêng mình. Giáo dục nhà trường có mục đích xây dựng lối sống và phương thức tư duy sao cho có ngày càng nhiều cá nhân đáp ứng được đòi hỏi của xã hội đang sống, để khi họ đủ sức, đủ lực, có thể góp sức lao động và giữ gìn kỷ cương nhằm kiến thiết một thế giới tốt hơn cho cộng đồng họ thuộc về.

Có nhiều nhà tư tưởng đặt ra vấn đề rằng giáo dục cần xây dựng nền tảng cho cá nhân theo đuổi tự do, và nhấn mạnh vào tầm quan trọng của giáo dục nhà trường nhằm thúc đẩy trí lực, tạo tiền đề cho quá trình giải phóng tư duy con người. Mình nghĩ điều này đúng, nhưng không nhất thiết phải được đặt thành mục đích lớn nhất, bởi cái gì đã đặt thành “mục đích” hoặc “mục tiêu” thì ta nhất định phải tìm cách để đạt được. Nhưng cần phải nhận thức rằng để đạt được sự tự do về mặt tư tưởng, nền tảng tư duy trừu tượng phải đạt ở mức rất cao – mà để được như vậy thì con người phải thực sự rèn luyện để vượt qua những giới hạn nhận thức của bản thân. Lúc này, đó đã trở thành lựa chọn cá nhân, và không thể là mục tiêu một tổ chức cần áp lên đa số và ép họ phải theo đuổi.

Vậy chẳng lẽ triết lý giáo dục lớn lại không quan trọng sao?

Thực ra, triết lý là điều rất quan trọng, nó đóng vai trò là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của một tổ chức, và từ đó dẫn lối cho những lựa chọn hành động của con người. Triết lý giáo dục giải quyết ba vấn đề chính: mục đích, phương thức và đối tượng. Trong đó, mục đích đặt ra đầu tiên sẽ dẫn đến lựa chọn phương thức phù hợp, từ đó nương theo tính chất, đặc điểm của đối tượng mà kế hoạch giáo dục được hình thành.

Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều triết lý giáo dục thịnh hành ở Việt Nam lại không xuất phát từ hệ thống triết lý thượng tầng, mà được phát triển dựa trên bối cảnh văn hóa, lịch sử, xã hội và hình dung của người lớn cho tương lai của đứa trẻ dựa trên những bối cảnh ấy. Ví dụ như với giáo dục “truyền thống”, thời phong kiến, những người được đầu tư cho học chữ thường gắn việc học với mục tiêu thi đỗ các kỳ thi, bởi đó là con đường duy nhất để thay đổi điều kiện sống và vị trí xã hội. Tương tự như thế, vai trò của người thầy quyền uy luôn được nhấn mạnh: “Không thầy đố mày làm nên”, và cha mẹ “gửi gắm” con cái cho thầy cô, mong thầy cô “rèn con nên người”… Những đặc điểm này kéo dài cho tới tận ngày nay trong một số môi trường giáo dục, khi người thực hành giáo dục không nhận thức rõ ràng yếu tố triết lý trong những hành động mình vẫn làm, mà chỉ đơn thuần duy trì những thói quen giảng dạy mình đã trải nghiệm trong quá khứ.

Nhưng trên thực tế, giáo dục của Việt Nam hiện nay cũng có sự xuất hiện của nhiều lựa chọn đa dạng hơn, phải không chị?

Như đã nói ở trên, có thể thấy, sự thay đổi trong xã hội ở nhiều mặt sẽ tác động đến nhận thức của người dân về con đường để có được điều họ muốn trong tương lai. Những nhận thức này sẽ dẫn đến lựa chọn phương thức phù hợp để giáo dục con trẻ, và bởi hình dung về triết lý chưa đủ rõ ràng và xuyên suốt, nên trong xã hội xuất hiện nhiều nhóm người như thầy cô và phụ huynh… tụ họp để phát triển phương thức riêng trong việc nuôi dưỡng thể chất và tinh thần trẻ nhỏ. Vì nhiều trào lưu mới chỉ dừng lại ở một đoạn cắt, ví dụ như theo đuổi một số phương pháp giáo dục đặc thù trong giai đoạn mầm non, đến khi đứa trẻ phát triển sang các giai đoạn khác thì quá trình giáo dục bị gián đoạn, trở nên “vênh”, thậm chí mâu thuẫn với môi trường xung quanh.

Chính đó là chỗ mà ta thấy vai trò của hệ thống triết lý thượng tầng xuyên suốt, trong đó, rất cần có những nhà tư tưởng dũng cảm phát triển những hệ thống giáo dục riêng, xác định những triết lý cụ thể ngay từ đầu – đáp ứng những mục tiêu nuôi dưỡng và giáo dục con người khác nhau trong một thế giới biến đổi không ngừng.

Bản thân chị đã có những điều chỉnh và nỗ lực riêng gì trong việc rèn luyện tư duy cho sinh viên, học sinh của mình để giúp các bạn đáp ứng với thế giới biến đổi không ngừng đó?

Trong quá trình phát triển năng lực giảng dạy, mình có tự tìm cách thử thách bản thân bằng việc chủ động mở rộng tiếp cận các lứa tuổi học viên với các nền tảng khác nhau, ban đầu chỉ đơn thuần là dạy thực hành tiếng, sau đó là dạy cách tư duy học thuật bằng tiếng Anh. Những trải nghiệm này không tồn tại độc lập, mà xâu chuỗi, từ kinh nghiệm này dẫn đến định hướng kế tiếp, dần dần mở ra rồi dẫn mình đến con đường mình đang đi hiện tại.

Trong cả quá trình, mình không chỉ là người dạy, mình còn là người tự học những kiến thức cần thiết để có thể dạy được người khác, sắp xếp và kết nối chúng theo những trình tự nhất định để từ đó tự dựng lên chương trình giảng dạy. Mình liên tục tự hỏi bản thân: người học của mình là ai, các bạn đang biết gì, không biết gì, và các bạn cần gì khi học thứ mình dạy; môn học của mình là gì, những kiến thức nào là cơ bản, những kiến thức nào cần được nắm trước, những thứ nào buộc phải học sau; mục đích cuối cùng khi học tất cả những thứ này là gì, các bạn sẽ làm được gì sau đó?…

Những câu hỏi này đều là cụ thể hóa của những triết lý dạng thu nhỏ – khu biệt trong đơn vị một môn học, góp phần định hướng rõ ràng hơn con đường đi của giảng dạy và học tập – giáo viên cần làm gì, học sinh cần học gì. Nó giúp cho mình, một giáo viên làm việc độc lập, không bám vào một chương trình định sẵn, có thể tự xây dựng chương trình giảng dạy với những mục tiêu cụ thể cho bất cứ môn nào mà mình có thể học được.

Quan sát bản thân khiến mình có niềm tin mãnh liệt vào việc xây dựng hệ thống tư duy bài bản cho người học dựa trên việc tìm kiếm câu trả lời cho những vấn đề họ quan tâm. Vai trò của mình, người hướng dẫn, là giúp các bạn nắm được kiến thức nền tảng cốt lõi, lý giải mối quan hệ logic giữa chúng, phát triển những kỹ năng cần thiết để tự truy vấn. Mình luôn tin rằng, dựa trên cơ sở nắm được phương thức, các bạn sẽ tự viết nên triết lý của riêng mình cho mọi việc các bạn làm, từ đó, kiến tạo thế giới theo cách các bạn muốn.

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Thúy - Quan niệm về giáo dục
Ảnh: Unsplash/Chris Liu

Dẫu vậy, chúng ta vẫn chứng kiến sự “ngự trị” của một nền giáo dục mà thành tích được đo đếm bằng con số. Chị thấy điều này mang lại lợi ích và rào cản gì trong việc đào tạo con người nói chung?

Đo đạc lượng hóa thực ra là cách đơn giản nhất để có được cái nhìn bao quát trên tổng thể toàn bộ những người cùng tuổi cùng học và thi một chương trình, cũng như đánh giá được công bằng hơn kết quả của một quá trình giáo dục. Nhưng khi mà ý nghĩa của kết quả thi gắn quá nhiều vào địa vị, cơ hội… trong cuộc sống, chúng ta sẽ tự khắc dồn sự chú ý vào kết quả và tìm mọi cách để cải thiện nó – thay vì chú ý đến giá trị thu nhận từ quá trình học tập và đào tạo.

Mặt có ích rõ ràng là những khía cạnh được kiểm tra/đánh giá sẽ được cả học sinh và giáo viên tập trung vào và đẩy mạnh chất lượng, nhưng những vấn đề hệ lụy của nó cũng khá nhiều. Với người học thì thái độ và kỳ vọng trong việc theo đuổi học tập dễ có xu hướng thực dụng, muốn tìm lối tắt; giáo viên dễ có khả năng chiều theo mong muốn này và điều chỉnh kế hoạch giảng dạy, tập trung vào rèn những kỹ năng và kiến thức liên quan – thay vì hướng đến những mục tiêu lớn hơn của hệ thống tổng thể. Có những phụ huynh, khi tham gia vào guồng quay hướng tới thành tích cao, cũng sẽ có những can thiệp không có ý nghĩa giáo dục lâu dài đối với người học.

Vậy, nếu tạm gác những “thành tích” có thể thúc đẩy học sinh nỗ lực, thì đâu là những động lực để con người có thể tìm thấy niềm vui trong việc học trọn đời.

Quan niệm về giáo dục
Ảnh: Unsplash/Laura K apfer

Các con của mình vốn là những đứa trẻ cá tính, không dễ dàng tuân theo những yêu cầu của người lớn, nên quá trình nuôi dạy chúng giúp mình quan sát và nhận ra một điều: một người cần có động cơ bên trong, có những kỹ năng nền tảng phù hợp, và cái “tôi” đủ lớn, họ sẽ tự mình theo đuổi việc học bất kể không gian và thời gian. Trong những điểm kể trên, cái “tôi” phải là xuất phát điểm, nghĩa là người đó phải nhận thức được rằng mình đang học vì mình, để khẳng định bản thân mình. Kế đó, người học phải đang có sẵn một năng lực nhất định mà chỉ cần nỗ lực và kiên trì thêm một chút là họ sẽ thấy thành quả. Điểm này rất quan trọng, vì nếu xây bậc từ 0 đến 10, người ta thường rất dễ nản; nhưng nếu chỉ cần cố gắng và sau một thời gian đã đẩy được từ 0 đến 1, họ sẽ có thêm niềm tin vào bản thân, tin vào cái “tôi”, tin vào mối quan hệ giữa công sức và thành quả… để từ đó đi tiếp từ 1 đến 2, rồi tiếp tục đến 10. Động lực sẽ mỗi ngày một lớn khi tự họ chứng kiến được thành quả của bản thân, lấy chúng làm động cơ đốt trong cho mọi quá trình học tập và làm việc. Khi định hướng như vậy, ta sẽ thấy vai trò của cha mẹ và thầy cô sẽ chỉ xoay quanh việc đưa ra hướng dẫn, lời khuyên và động viên đúng lúc khi đứa trẻ cần. Giáo viên có thể là bất kỳ ai phù hợp với định hướng và mong muốn của trẻ. Trách nhiệm của họ là hoàn thành thật tốt công việc hỗ trợ và dẫn dắt.

Cảm ơn chị rất nhiều và chúc chị luôn tràn đầy năng lượng để tiếp tục học hỏi và cống hiến cho sự nghiệp giảng dạy.

 


Xem thêm

[ELLE Voice] MC Phí Linh: “Ai cũng cần xây dựng cho mình một nhân hiệu”

13 mẹo hữu ích giúp bạn nâng cao kỹ năng tự học

80 triết lý sống và câu nói hay từ các tác phẩm văn học kinh điển


 

Nhóm thực hiện

Bài: Phương Uyên

Ảnh: NVCC, Tư liệu

Chia sẻ:

Đã sao chép liên kết bài viết.

BÌNH LUẬN (0)

Du lịch

Bí quyết sống

Trải nghiệm