Chiến tranh từng là nguồn cảm hứng và đề tài chủ lực của điện ảnh Việt suốt 21 năm chiến sự và nhiều năm sau đó. Nhưng đến thập niên 1990, phim chiến tranh bắt đầu xuống dốc, khán giả quay lưng và nhiều bộ phim chiến tranh được sản xuất chỉ chiếu trong những dịp lễ. Năm 2004, bộ phim Ký ức Điện Biên được đầu tư 13 tỷ đồng (con số kỷ lục thời điểm ấy), nhưng chỉ vỏn vẹn 60 vé được bán ra trong ba ngày chiếu ở rạp Đống Đa. Gần một thập kỷ sau, Mùi cỏ cháy và Những người viết huyền thoại vẫn chật vật ra rạp và chủ yếu được chiếu miễn phí.
Đến năm 2025, mọi thứ đã đảo ngược hoàn toàn, khi Địa đạo (của Đạo diễn Bùi Thạc Chuyên) thu về hơn 170 tỷ đồng, Mưa đỏ (của Đạo diễn Đặng Thái Huyền) cán mốc khoảng 714 tỷ và trở thành phim Việt đầu tiên vượt ngưỡng 700 tỷ. Lần đầu tiên sau nhiều thập niên, một bộ phim chiến tranh đứng ở vị trí ăn khách nhất lịch sử phòng vé nội địa. Quả thật là một chặng đường không mấy bằng phẳng của phim chiến tranh Việt, nhưng sau tất cả, thế hệ chúng ta vẫn được ôn lại lịch sử hào hùng ấy qua những thước phim, từ những tác phẩm đặt nền móng cho tới những dự án phim với kỹ xảo công phu và hiện đại.

|
NỘI DUNG CHÍNH Chặng đường thăng trầm của dòng phim chiến tranh Việt: Từng là đề tài chủ lực của điện ảnh Việt Nam suốt hơn hai thập niên chiến sự, phim chiến tranh rơi vào thoái trào từ thập niên 1990 khi khán giả quay lưng và nhiều tác phẩm chỉ được chiếu trong các dịp lễ. Thế hệ kinh điển đặt nền móng: Từ Con chim vành khuyên (1962), Chị Tư Hậu (1963), Nổi gió (1966) đến Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (1972) và Cánh đồng hoang (1979), lớp phim đen trắng đầu tiên đã mang về cho điện ảnh Việt hàng loạt giải thưởng tại Moscow và Karlovy Vary. Cú lội ngược dòng của năm 2025: Địa đạo thu hơn 170 tỷ đồng và Mưa đỏ cán mốc khoảng 714 tỷ, lần đầu tiên đưa một bộ phim chiến tranh lên vị trí ăn khách nhất lịch sử phòng vé Việt và mở đường cho dòng phim sử thi trong những năm tới. |
Cánh đồng hoang (1979, đạo diễn Hồng Sến)
Giữa Đồng Tháp Mười mùa nước nổi, vợ chồng Ba Đô (Lâm Tới) và Sáu Xoa (Thúy An) nuôi con nhỏ trong một căn chòi giữa đồng, đồng thời làm nhiệm vụ giao liên đưa cán bộ vượt tuyến. Trên đầu họ là những chiếc trực thăng Mỹ quần đảo ngày đêm.
Kịch bản của nhà văn Nguyễn Quang Sáng, phần nhạc của Trịnh Công Sơn và cách quay của Đường Tuấn Ba đưa bộ phim ra khỏi khuôn khổ tuyên truyền quen thuộc. Cảnh cuối phim, khi tấm ảnh vợ con rơi ra từ túi áo viên phi công tử trận, là một trong những trường đoạn được nhắc lại nhiều nhất của điện ảnh Việt: chiến tranh nghiền nát con người ở cả hai phía. Cánh đồng hoang giành Huy chương Vàng tại Liên hoan phim Quốc tế Moscow năm 1981.

Vĩ tuyến 17 ngày và đêm (1972, đạo diễn Hải Ninh)
Bộ phim ra đời ngay giữa lúc chiến tranh leo thang, lấy bối cảnh làng cát Gio Linh bên bờ Bến Hải, nơi ranh giới chia cắt đi thẳng qua từng mái nhà. Chị Dịu (Trà Giang) dẫn dắt dân làng đối đầu với viên chỉ huy Trần Sùng (Lâm Tới).
Gần ba tiếng phim là một quy mô dàn dựng hiếm thấy ở miền Bắc thời điểm đó, với những đại cảnh công phu và mạch truyện đan xen giữa cuộc chiến tập thể và số phận riêng của một người đàn bà mất chồng, mất con. Vai chị Dịu mang về cho Trà Giang giải Nữ diễn viên chính xuất sắc tại Liên hoan phim Quốc tế Moscow 1973, giải thưởng diễn xuất quốc tế đầu tiên của một nghệ sĩ Việt Nam.

Con chim vành khuyên (1962, đạo diễn Nguyễn Văn Thông và Trần Vũ)
Chỉ dài 42 phút, tác phẩm này vốn là bài thi tốt nghiệp của Nguyễn Văn Thông tại khóa đạo diễn đầu tiên của Trường Điện ảnh Việt Nam. Phim kể về bé Nga (Tố Uyên) và người cha làm nghề chài lưới bên một khúc sông vùng địch hậu thời kháng chiến chống Pháp, bí mật đưa đò chở cán bộ với tín hiệu an toàn là cánh diều thả trên trời.
Hình ảnh con chim vành khuyên được thả về trời từ đó thành một trong những chi tiết đầy tính biểu tượng mà điện ảnh Việt tạo ra từ đề tài chiến tranh, và cũng được sử dụng trong bộ phim chiến tranh khác như Mưa đỏ với ý nghĩa về khát vọng sống và khát vọng hoà bình. Bộ phim Phim nhận Giải đặc biệt cho hạng mục phim ngắn tại Liên hoan phim Quốc tế Karlovy Vary năm 1962.

Em bé Hà Nội (1974, đạo diễn Hải Ninh)
Sau Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Hải Ninh cùng biên kịch Hoàng Tích Chỉ trở lại với một câu chuyện nhỏ hơn nhưng day dứt hơn. Ngọc Hà, cô bé mười hai tuổi do Lan Hương thủ vai, ngược đường trở về Hà Nội tìm cha sau khi mẹ và em gái bị vùi dưới đống đổ nát ở phố Khâm Thiên.
Bộ phim dựng lại thủ đô sau mười hai ngày đêm cuối năm 1972 bằng cách để ký ức và hiện tại chồng lên nhau: một bữa cơm gia đình đông đủ đặt cạnh khung cảnh phố xá tan hoang. Chiến tranh ở đây được nhìn qua con mắt của một đứa trẻ, một em bé Hà Nội, và đây cũng là điều làm nên sức nặng của tác phẩm.

Đường về quê mẹ (1971, đạo diễn Bùi Đình Hạc)
Ba chiến sĩ công binh Núi, Dư và Ly nhận nhiệm vụ dựng trận địa giả để hút bom B52 về phía mình, mở đường cho đồng đội bí mật thông tuyến phục vụ chiến dịch giải phóng làng Vân. Lâm Tới vào vai Núi, còn Trúc Quỳnh đảm nhận vai mẹ Núi.
Bên cạnh nhóm lính công binh, bộ phim dành nhiều đất cho hình tượng người mẹ ở lại phía sau, lặng lẽ gánh phần mất mát mà chiến tranh để lại trong mỗi gia đình. Đây là một trong những tác phẩm tiêu biểu giúp Bùi Đình Hạc nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh, và tấm áp phích của phim cũng thuộc thế hệ poster đầu tiên của điện ảnh Việt Nam.

Chị Tư Hậu (1963, đạo diễn Phạm Kỳ Nam)
Chuyển thể từ truyện Một chuyện chép ở bệnh viện của nhà văn Bùi Đức Ái, phim theo chân Tư Hậu (Trà Giang), một phụ nữ Nam Bộ làm nghề đỡ đẻ, có chồng đi kháng chiến. Sau một trận càn, chị bước xuống sông định kết thúc tất cả, rồi quay lại vì nghe tiếng con khóc.
Phạm Kỳ Nam tiết chế thoại tới mức tối đa và đặt gần như toàn bộ sức nặng lên gương mặt diễn viên. Đường đi của nhân vật, từ một người đàn bà kiệt quệ tới một cán bộ cách mạng, được kể bằng ánh mắt nhiều hơn lời nói. Phim mang về Huy chương Bạc tại Liên hoan phim Quốc tế Moscow 1963 và hiện vẫn là học liệu diễn xuất trong các trường nghệ thuật.

Nổi gió (1966, đạo diễn Huy Thành)
Chuyển thể từ vở kịch cùng tên của Đào Hồng Cẩm, Nổi gió lấy bối cảnh mà nhiều gia đình miền Nam thời ấy từng trải qua: hai chị em đứng ở hai chiến tuyến. Vân (Thụy Vân) hoạt động cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng, còn Phương (Thế Anh), người em trai thất lạc nhiều năm, trở về trong bộ quân phục sĩ quan Việt Nam Cộng hòa.
Xung đột được đẩy tới tận cùng qua những trường đoạn đối thoại sắc lạnh và cảnh Vân bị tra tấn trong nhà lao, phải giả điên để tiếp tục hoạt động. Đây là bộ phim đầu tiên đoạt Bông sen Vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ nhất năm 1970, đồng thời đưa Thế Anh thành gương mặt nam được nhớ nhất của điện ảnh miền Bắc.

Ngã ba Đồng Lộc (1997, đạo diễn Lưu Trọng Ninh)
Mười cô gái thanh niên xung phong tuổi từ 17 đến 22 thuộc Tiểu đội 4, Đại đội 552, có nhiệm vụ giữ thông tuyến đường huyết mạch qua ngã ba Đồng Lộc, nơi hứng hàng nghìn trận bom và được gọi là tọa độ chết. Ngày 24/7/1968, cả tiểu đội hy sinh trong một loạt bom.
Lưu Trọng Ninh sửa lại phần lớn kịch bản sau khi gặp nhân chứng, chọn kể các cô như những nạn nhân của chiến tranh thay vì dựng một trường đoạn hy sinh mang tính anh hùng ca. Nhờ vậy, phần lớn thời lượng phim dành cho những câu chuyện đời thường của các cô gái: gội đầu bên suối, giấu thư tình, ao ước một tấm gương soi. Phim giành Bông sen Vàng tại Liên hoan phim Việt Nam lần thứ XII và là tác phẩm đưa Xuân Bắc tới màn ảnh rộng.

Địa đạo: Mặt trời trong bóng tối (2025, đạo diễn Bùi Thạc Chuyên)
Năm 1967, tại căn cứ Bình An Đông thuộc vùng Củ Chi, đội du kích 21 người do Bảy Theo (Thái Hòa) chỉ huy nhận nhiệm vụ bảo vệ một nhóm tình báo và lập tức trở thành mục tiêu truy quét của quân đội Mỹ.
Phần lớn thời lượng phim diễn ra dưới lòng đất, trong những đường hầm chật, tối và ngộp. Bùi Thạc Chuyên gần như từ bỏ đại cảnh để đẩy khán giả vào trạng thái thiếu khí cùng nhân vật, biến địa đạo thành một không gian tâm lý hơn là một bối cảnh chiến tranh thông thường. Phim thu hơn 170 tỷ đồng, mở màn cho một năm chưa từng có của dòng phim này.

Mưa đỏ (2025, đạo diễn Đặng Thái Huyền)
81 ngày đêm tại Thành cổ Quảng Trị năm 1972 được kể qua Cường (Đỗ Nhật Hoàng) và những người lính trẻ cùng tiểu đội, phần lớn ở tuổi đôi mươi. Trận đánh ấy giữ vai trò quyết định trên bàn đàm phán Paris, và cái giá phải trả nằm ở từng khúc sông Thạch Hãn.
Đặng Thái Huyền chọn kể bằng những lát cắt đời lính hơn là bằng chiến thuật quân sự, để tình đồng đội và nỗi sợ rất người tồn tại song song. Phim đạt khoảng 714 tỷ đồng, vượt mọi kỷ lục phòng vé phim Việt và trở thành tác phẩm đầu tiên chạm mốc 700 tỷ. Với nhiều khán giả trẻ, đây cũng là lần đầu họ chủ động mua vé xem một bộ phim chiến tranh.

|
NHỮNG CÂU HỎI THƯỜNG GẶP Phim chiến tranh Việt Nam nào có doanh thu cao nhất? Bộ phim chiến tranh nào lâu đời nhất trong danh sách? Vì sao nên xem phim chiến tranh vào dịp 27/7? |
Xem thêm:
•12 bộ phim chiến tranh – lịch sử Việt Nam khích lệ tinh thần yêu nước
•“Mùa vàng” phòng vé 30/4: Phim Việt cạnh tranh khốc liệt, hoạt hình ngoại phủ sóng
•Cảm Ơn Người Đã Thức Cùng Tôi là phim Việt có số lượng OST nhiều nhất với 14 ca khúc
Nhóm thực hiện
Bài: Hải Phương
Ảnh: Tổng hợp